Một ước nguyện đã thành hiện thực!

Lần nào cũng thế, mỗi khi máy bay của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Việt Nam Arlines, vượt chặng đường hơn 10 nghìn km đưa tôi về với quê hương yêu thương của mình, là cảm xúc lại dâng trào. Một ngày đầu tháng năm vừa qua cũng vậy, tôi lại được sống trong khoảnh khắc như thế, đặc biệt là sau hai năm vắng nhà, và lại vừa trải qua những ngày sóng gió.

Tác giả Hồ Ngọc Thắng tại tượng đài chiến thắng

Gặp mẹ và người thân, rồi hối hả vào Quảng Trị, vùng đất nơi tôi có bao trải nghiệm vui buồn từ những ngày tuổi mười tám đôi mươi, khi còn khoác trên mình bộ quân phục của anh Bộ đội Cụ Hồ. Tôi chọn địa chỉ dừng chân đầu tiên là khu vực bờ bắc cầu Cửa Việt, vì cuối tháng 10.1972, khi đang thực hiện nhiệm vụ duy trì thông tin giữa sở chỉ huy Tiểu đoàn 1 bộ binh, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 với 1 khẩu đội cối 82 ly đặt ở thôn Hà My đổ nát, thường xuyên bắn về hướng khu vực Thành Cổ để hỗ trợ bộ đội trong thành, thì tôi nhận lệnh mang khí tài về Sở chỉ huy tiểu đoàn. Sau này tôi mới biết, Trung đoàn 101 giao tuyến “chốt” chợ Sãi ở vị trí phía đông bắc sát Thành Cổ cho đơn vị bạn và ra bảo vệ cảng Cửa Việt.

Trước khi vượt sông vào cảng Cửa Việt, trung đội thông tin của tôi và ban chỉ huy tiểu đoàn ém quân tại bờ bắc cửa biển của sông Cửa Việt. Tại đây, anh em được thông báo chờ lệnh vượt sông vào cảng. Thời gian chờ đợi căng thẳng. Hàng ngày, máy bay Mỹ và pháo của hạm đội 7 thường xuyên dội bom, bắn vào khu vực cảng. Từ chổ ém quân, thấy rõ những cột khói bom. Rồi giờ G đã đến với mệnh lệnh: Đêm nay toàn bộ trung đội thông tin sẽ vượt sông bằng thuyền máy của đại đội vận tải. Trời lạnh, mưa phùn, thuyền máy chạy hết tốc độ. Để rút ngắn đường hành quân sau khi cập bến bờ nam, điểm xuất phát được chọn rất gần cửa biển. Lúc đó gió biển tràn vào khá mạnh, mãi khi trời sắp sáng chiếc thuyền máy mới cập bến. Theo kế hoạch ban đầu, trung đội thông tin đóng quân ở khu vực phía nam gần cột cờ của cảng, nhưng kế hoạch không thể thực hiện vì nơi này bị đại bác của địch bắn liên tục. Phương án cuối cùng là chiếm lĩnh trận địa dưới chân điểm cao cách cột cờ khoảng độ 1,5 km đến 2 km về phía nam và nằm ở phía đông làng Hà Tây. Trong lúc xuồng máy chạy về bờ nam, ý nghĩ của tôi: Mong có ngày trở lại khi đất nước thanh bình, biết đâu sau này đây là một bến phà nhôn nhịp… Điểm xuất phát năm xưa gần khu vực giáp chân cầu Cửa Việt ở bờ bắc hôm nay.

Tác giả Hồ Ngọc Thắng thắp hương tưởng nhớ đồng đội tại Thành cổ Quảng Trị

Đã nhiều lần thăm lại cảng Cửa Việt, nhưng tôi cùng các thành viên của đoàn đều đi từ thị xã Quảng Trị theo tỉnh lộ 64 về cửa biển Cửa Việt và không có đủ thời gian thăm các thôn làng đã đóng quân từ 1972 đến cuối 1974. Vì thế, lần này tôi muốn từ bờ bắc đi qua cây cầu nối liền hai bờ sông Cửa Việt để thăm các thôn làng đã cùng đồng đội sống năm xưa. Cùng với các anh chị trong gia đình, sau khi thăm cảng và leo lên tháp đèn hải đăng, chúng tôi tới làng Hà Tây, xã Triệu Vân. Còn đó con đường giữa thôn dẫn đến sông cụt Hà Tây. Nhưng tôi vất vả tìm lại điểm cao 12, nơi chúng tôi đóng quân sau trận chiến ác liệt trong tháng 1.1973, vì cây cối mọc xanh tốt và cảnh quan thay đổi rất nhiều. Chúng tôi vào một ngôi nhà khang trang để hỏi đường. Bà chủ nhà niềm nở tiếp, mời nước. Trò chuyện thân mật, được biết bà là Phạm Thị Lương, cũng là du kích tham gia chiến đấu trong những năm chiến tranh, sau khi chồng mất, bà sống cùng bốn người con. Gia đình bà kinh doanh vật liệu nuôi tôm. Ngôi nhà của gia đình và các vật dụng trong gia đình cho khách xa thấy thành công của họ trong việc làm kinh tế trên mảnh đất khô cằn này. Bà dẫn chúng tôi đến chân điểm cao 12, nơi mà hôm nay người dân gọi với cái tên rất thơ mộng Rú Tam Thai, vì ba đỉnh đồi cát có nhiều cây xanh tốt.

Điểm dừng tiếp theo là thôn Đại Hào, xã Triệu Đại. Con đường và những thửa ruộng vẫn như xưa giúp tôi nhanh chóng tìm được gia đình ông Hoàng Tồn và bà Nguyễn Thị Mót sau hơn 45 năm. Rất buồn vì ông bà đã đi vào cõi vĩnh hằng. Anh Tựu và anh Định cho tôi biết, trong số 9 người em gái thì Trâm cũng không còn. Năm 1977, Trâm nhập ngũ. Sau khi rời quân ngũ, Trâm đã mất năm 1984. Điểm cuối cùng của hành trình về thăm lại chiến trường xưa lần này là thăm và thắp hương ở Di tích Quốc gia đặc biệt Thành Cổ, Bến vượt sông Thạch Hãn. Một lần nữa, tôi lại nhận ra rằng, mồ hôi, nước mặt và máu của các chiến sĩ đã đổ xuống đất này để cho cuộc sống hằng ngày thay da đổi thịt. Và dù ở đâu, làm gì, tôi đã và sẽ sống, hành động vì lợi ích, danh dự của nhân dân và của đất nước.

Tác giả Hồ Ngọc Thắng – Việt kiều tại Đức

Tin cùng chuyên mục: