KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC Ý NGHĨA CỦA PHONG TRÀO “BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ”

Ngay sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương xóa nạn mù chữ và đảm bảo quyền học tập của nhân dân. Người viết: “Bình dân học vụ không những dạy đọc, dạy viết, mà còn phải chú trọng dạy đạo đức công dân. Như vậy bình dân học vụ sẽ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước” [1].

Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xác định phát triển con người và nâng cao dân trí số là một trong những động lực của phát triển bền vững, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo, phát động phong trào “Bình dân học vụ số”.

Nghệ An là một trong những địa phương triển khai phong trào khá sớm, ngay sau khi Trung ương ban hành Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số”; ngày 26/3/2025, Tỉnh uỷ ban hành Công văn số 3470-CV/TU về việc thực hiện Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW. Nội dung triển khai thực hiện bám sát định hướng của Trung ương, nhấn mạnh phổ cập kỹ năng số cho toàn dân, không để ai bị bỏ lại phía sau, huy động cả hệ thống chính trị tham gia và đưa phong trào đến tận cơ sở.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng chủ trương này để tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Những luận điệu này không chỉ bóp méo bản chất của chủ trương mà còn hướng tới cản trở tiến trình chuyển đổi số, làm suy giảm niềm tin xã hội và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ nhất, phản bác luận điệu cho rằng “Bình dân học vụ số” chỉ là một phong trào mang tính hình thức.

Một số đối tượng cố tình cho rằng đây chỉ là “chiến dịch truyền thông”, “đổi tên phong trào cũ” hoặc “khẩu hiệu chính trị”. Đây là thủ đoạn phủ nhận thành quả đổi mới và chuyển đổi số của đất nước.

Thực chất, “Bình dân học vụ số” là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao dân trí trong bối cảnh tiến bộ mới về khoa học và công nghệ. Nếu năm 1945 nhiệm vụ trọng tâm là xóa nạn mù chữ để xây dựng nền độc lập, thì hiện nay nhiệm vụ cấp thiết là phổ cập kỹ năng số để người dân có đủ năng lực tham gia xã hội số, kinh tế số và chính quyền số. Nội hàm của phong trào không chỉ dừng ở việc sử dụng thiết bị thông minh mà hướng tới hình thành năng lực số, tư duy số và văn hóa số cho toàn dân.

Đối với Nghệ An, đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng khi địa phương có địa bàn rộng, nhiều xã miền núi, biên giới, đồng bào dân tộc thiểu số và sự chênh lệch về điều kiện tiếp cận công nghệ giữa các vùng. UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Văn bản số 8916/UBND-VX ngày 20/7/2026 về triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số”  nhằm tập trung nâng cao chất lượng phổ cập kỹ năng số, phát huy vai trò người đứng đầu và tăng cường phối hợp giữa các lực lượng tham gia, cho thấy phong trào đã bước sang giai đoạn nâng cao chất lượng, chiều sâu sau hơn một năm triển khai. Điều đó cho thấy “Bình dân học vụ số” không phải phong trào hình thức mà là giải pháp phát triển bao trùm nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa miền núi và đồng bằng, giữa trung tâm và vùng khó khăn.

Thứ hai, phản bác luận điệu xuyên tạc rằng “Bình dân học vụ số” là công cụ để Nhà nước kiểm soát người dân.

Đây là luận điệu thường xuyên được các tổ chức phản động, chống đối sử dụng nhằm kích động tâm lý lo ngại về quyền riêng tư.

Cần khẳng định rằng chuyển đổi số là xu thế phát triển chung của thế giới. Hầu hết các quốc gia đều xây dựng cơ sở dữ liệu, định danh điện tử và nền tảng số để nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Việt Nam cũng đang thực hiện mục tiêu đó theo nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo đảm quyền con người và quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật.

“Bình dân học vụ số” không phải chương trình thu thập dữ liệu hay giám sát xã hội mà là chương trình trang bị cho người dân kiến thức và kỹ năng để sử dụng công nghệ số an toàn, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện tin giả, phòng chống lừa đảo trên không gian mạng và khai thác hiệu quả các tiện ích số. Luận điệu quy chụp mục tiêu của chương trình thành công cụ kiểm soát xã hội là sự đánh tráo khái niệm, thiếu căn cứ. Hơn một năm triển khai, Trung ương Đoàn đã chỉ đạo các cấp bộ Đoàn thành lập và duy trì 13.124 đội hình “Bình dân học vụ số” thu hút 441.617 lượt đoàn viên, thanh niên trực tiếp tham gia hỗ trợ gần 2,5 triệu người dân. Mạng lưới hỗ trợ chuyển đổi số được thiết lập rộng khắp từ cơ sở với hơn 18 nghìn hoạt động tập huấn, phổ cập kỹ năng số; các mô hình như “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”, “mỗi đoàn viên hỗ trợ một người dân”, “Tổ công nghệ số cộng đồng”, “Ngày thứ Bảy chuyển đổi số” đã được triển khai hiệu quả tại nhiều địa phương [2].

Thứ ba, phản bác quan điểm cho rằng người dân vùng sâu, vùng xa hoặc người cao tuổi “không cần học kỹ năng số”.

Đây là cách tiếp cận phiến diện, đi ngược quan điểm phát triển bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau mà Đảng ta nhất quán thực hiện. Nghệ An hiện có 79/130 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vì vậy phổ cập kỹ năng số cho đồng bào các dân tộc, người dân vùng sâu, vùng xa và người cao tuổi không chỉ là yêu cầu của chuyển đổi số mà còn là nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện công bằng xã hội và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ, Nhà nước đã ưu tiên nguồn lực để phát triển hạ tầng thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, giáo dục, y tế, thương mại điện tử và truyền thông số cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, Dự án 10 của Chương trình đã bố trí Tiểu dự án 2 về ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tạo nền tảng để người dân tiếp cận môi trường số một cách bình đẳng, thuận lợi nhất.

Vì vậy, “Bình dân học vụ số” không phải là phong trào dành cho một bộ phận dân cư mà là chính sách phổ cập tri thức số cho toàn dân, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền học tập của mọi người dân, đồng thời cụ thể hóa quan điểm của Đảng về phát triển con người là trung tâm, chủ thể và động lực của sự phát triển.

Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng đầu tư cho “Bình dân học vụ số” là lãng phí ngân sách.

Đây là cách nhìn ngắn hạn, chỉ đánh giá chi phí trước mắt mà bỏ qua giá trị lâu dài.

Chi phí đào tạo kỹ năng số cho người dân thực chất là đầu tư cho nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi người dân có kỹ năng số, hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến tăng lên, chi phí hành chính giảm xuống, năng suất lao động được cải thiện và cơ hội tiếp cận thị trường số được mở rộng. Đó là khoản đầu tư mang lại lợi ích kinh tế – xã hội bền vững.

Đối với Nghệ An, nơi đang thúc đẩy xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số, phổ cập kỹ năng số còn góp phần nâng cao chất lượng cải cách hành chính, thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Thứ năm, đấu tranh với âm mưu lợi dụng khoảng cách số để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Một số đối tượng cố tình khai thác những khó khăn bước đầu trong triển khai chuyển đổi số tại vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để xuyên tạc rằng Đảng “bỏ rơi vùng khó khăn” hoặc “ưu tiên thành thị”.

Thực tế, chính các địa bàn khó khăn mới là đối tượng được ưu tiên trong nhiều chương trình phát triển hạ tầng số, phổ cập kỹ năng số và hỗ trợ tiếp cận dịch vụ số. Điều này được thể hiện rõ qua việc Trung ương và tỉnh Nghệ An ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đầu tư hạ tầng viễn thông, hạ tầng số, nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở và người dân, phát triển các mô hình Tổ công nghệ số cộng đồng, phổ cập dịch vụ công trực tuyến và thanh toán số tại vùng đặc biệt khó khăn. Những chính sách đó cho thấy chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là ưu tiên vùng khó khăn trong tiến trình chuyển đổi số, chứ không phải bỏ quên hay tạo ra khoảng cách phát triển như các luận điệu xuyên tạc cố tình quy kết.

 

Đưa phong trào “Bình dân học vụ số” phát triển chiều sâu

Để Phong trào “Bình dân học vụ số” thực sự lan tỏa và phát huy hiệu quả, trước hết cần tiếp tục nâng cao nhận thức, thống nhất hành động trong cả hệ thống chính trị về ý nghĩa chiến lược của phổ cập kỹ năng số, coi đây là nhiệm vụ phát triển con người trong thời đại số, không đơn thuần là hoạt động ứng dụng công nghệ. Cùng với đó, tăng cường tuyên truyền, đấu tranh phản bác kịp thời các thông tin sai trái, xuyên tạc về mục tiêu, ý nghĩa của phong trào; chủ động cung cấp thông tin chính thống, những mô hình hay, cách làm hiệu quả để củng cố niềm tin xã hội.

Các cấp, các ngành cần tập trung nguồn lực đưa phong trào đến tận cơ sở, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, vùng khó khăn và người cao tuổi. Phát huy vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng, đoàn viên, thanh niên, giáo viên, cán bộ, công chức trong phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”, giúp người dân sử dụng thành thạo dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, định danh điện tử và các nền tảng số thiết yếu.

Đối với Nghệ An, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh, gắn phổ cập kỹ năng số với phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; quan tâm đầu tư hạ tầng số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh.

Tin cùng chuyên mục: